BÌNH LUẬN

Quy định về chứng cứ trong tố tụng dân sự ở Việt Nam và những sự khác biệt so với Hoa Kỳ

Tháng Chín 24, 2019 Lao Động & Việc Làm

Quy định về chứng cứ trong tố tụng dân sự ở Việt Nam và những sự khác biệt so với Hoa Kỳ

Chứng cứ luôn là yếu tố then chốt trong tố tụng và giữ vai trò lớn trong việc quyết định thắng – thua của một vụ kiện. Trên thực tế, chứng cứ quan trọng đến mức mà, trong hoạt động kinh doanh thường ngày, việc nắm được những kiến thức cơ bản về chứng cứ là điều thiết yếu cho mọi công ty. Khó có ai có thể thành công trong kinh doanh nếu không biết cách lưu giữ chứng cứ để chứng minh cho các thỏa thuận với các đối tác hoặc chứng minh cho những sự vi phạm đối với các thỏa thuận đó. Tuy nhiên, đến từ một quốc gia có hệ thống thông luật như Hoa Kỳ, bạn có thể không nhận thức được quy định về chứng cứ ở Việt Nam khác biệt đến mức nào. Những vụ kiện mà bạn nghĩ rằng bạn có cơ hội thắng cao có thể hóa ra là một vụ kiện thất bại, các chứng cứ bạn cho rằng mạnh và mang tính quyết định có thể hóa ra là không có giá trị gì tại Tòa án Việt Nam và ngược lại. Do đó, trong Bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích một vài quy định về chứng cứ đặc thù trong tố tụng dân sự Việt Nam, và cách mà bạn có thể điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mình một cách phù hợp để bảo vệ chính mình và tổ chức của mình.[1]

1 Tính được chấp nhận của các chứng cứ

Ở Hoa Kỳ, có những quy định phức tạp để xác định liệu rằng một chứng cứ có được chấp nhận hay không; và do vậy, chiến lược phổ biến trong tố tụng là phản đối lại những chứng cứ của bên đối thủ và chứng minh những chứng cứ này là không chấp nhận được. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hầu như không có chứng cứ nào được xem là “chứng cứ không được chấp nhận”.

Pháp luật Việt Nam vẫn có những yêu cầu đối với chứng cứ, chủ yếu liên quan đến hình thức của tài liệu. Ví dụ, tất cả các tài liệu được nộp phải là bản gốc, hoặc bản sao được chứng thực bởi cơ quan có thẩm quyền (để chứng thực, bạn cũng phải xuất trình những bản gốc để các cơ quan có thẩm quyền này đối chiếu). Tuy nhiên, vấn đề ở đây là, không có một hệ quả rõ ràng nào khi những chứng cứ không đáp ứng được những yêu cầu đặt ra. Trên thực tế, Tòa án Việt Nam thường nhận tất cả những chứng cứ mà các bên nộp, vì không có quy định nào cho phép Tòa án từ chối nhận chứng cứ. Cũng không có quy định nào cấm việc thảo luận về những chứng cứ không đáp ứng được yêu cầu của luật (thường được gọi là “chứng cứ không hợp lệ”) tại phiên tòa và cũng không có quy định nào cấm việc đưa ra lập luận dựa trên những chứng cứ này. Về lý thuyết, nếu chứng cứ không hợp lệ, Tòa án sẽ không cân nhắc những chứng cứ đó khi đưa ra phán quyết. Tuy nhiên, không có gì có thể đảm bảo rằng Tòa án Việt Nam sẽ hoàn toàn bỏ qua những chứng cứ không hợp lệ, khi mà những chứng cứ này vẫn nằm trong hồ sơ vụ việc, vẫn được thảo luận và trình bày trong lập luận trong suốt quá trình tố tụng. Do đó, trên thực tế, Tòa án Việt Nam đôi lúc vẫn cân nhắc đến những tài liệu photo, kết hợp với những chứng cứ khác, khi ban hành phán quyết, mặc dù những tài liệu photo lẽ ra phải là không hợp lệ do thiếu sự chứng thực.

Trong nhiều trường hợp, Tòa án Việt Nam có thể bị ám ảnh bởi “sự thật” đến mức ít ưu tiên việc bảo vệ những nguyên tắc quan trọng của pháp luật về chứng cứ. Điều này được thể hiện qua việc không có quy định nào cấm sử dụng những chứng cứ được thu thập một cách bất hợp pháp (ví dụ như tài liệu bị lấy trộm, dữ liệu bị lấy từ việc xâm nhập một cách bất hợp pháp vào hệ thống máy tính, thông tin mật, v.v.) những tài liệu này vẫn có thể được nộp và được xem xét như là chứng cứ bởi Tòa án Việt Nam. Hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình thu thập chứng cứ sẽ được xem là một vấn đề riêng biệt và hầu như sẽ không ảnh hưởng gì đến giá trị của các chứng cứ này tại phiên tòa dân sự.

Bởi vì pháp luật Việt Nam thiếu sót những quy định bảo vệ về chứng cứ, bạn phải cực kỳ cẩn thận trong việc thảo luận, trao đổi khi có nguy cơ tranh chấp, bởi vì hầu hết mọi thứ đều có thể được sử dụng để chống lại bạn tại Tòa án sau này. Những sai lầm phổ biến nhất mà chúng tôi thường thấy là trong việc thương lượng giải quyết tranh chấp. Tại Hoa Kỳ, những đề xuất thỏa hiệp và trao đổi giữa các bên trong quá trình thương lượng giải quyết tranh chấp thường sẽ không được sử dụng làm chứng cứ. Tuy nhiên, những quy định này hiện tại không có tồn tại ở Việt Nam[2] và việc một bên sử dụng những đề xuất thỏa hiệp làm chứng cứ chống lại bên đưa ra đề xuất là khá phổ biến trong tố tụng.

2 Nhân chứng

Nhân chứng là rất quan trong tố tụng Hoa Kỳ và thường là nguồn dữ kiện và chứng cứ chính. Do đó, việc khai báo của nhân chứng và thẩm vấn nhân chứng thường chiếm một phần lớn thời gian trong các phiên tòa dân sự ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, sự tham gia của nhân chứng trong những phiên tòa dân sự thì không phổ biến. Thay vào đó, các bên thường trình bày lập luận và tranh luận dựa trên những chứng cứ bằng văn bản trong hồ sơ vụ việc.

Lý do của sự khác biệt này là vì pháp luật Việt Nam không có biện pháp hiệu quả chống lại sự không hợp tác của nhân chứng. Tại Hoa Kỳ, một bên (thường là thông qua luật sư) có thể yêu cầu bất kỳ nhân chứng nào hầu tòa khi thấy rằng điều đó cần thiết cho quá trình tranh tụng. Tòa án Hoa Kỳ thường không quan tâm hoặc thắc mắc về tính hợp pháp của yêu cầu nhân chứng hầu tòa của một bên vì các bên được trao một thẩm quyền rộng để thiết lập những chứng cứ cho vụ kiện hoặc cho việc bào chữa của họ. Nếu việc yêu cầu hầu tòa là trái pháp luật hoặc không hợp lý, những nhân chứng mới là bên có trách nhiệm phải phản đối lại Tòa án Hoa Kỳ. Nếu một nhân chứng lờ đi hoặc từ chối tuân thủ việc hầu tòa mà không có lý do chính đáng, Tòa án Hoa Kỳ có thể khép tội không tôn trọng Tòa án và bắt nộp những khoản tiền phạt và/hoặc phạt tù.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, một bên không thể đưa một người trở thành nhân chứng trong một vụ việc mà không có sự chấp thuận trước của Tòa án Việt Nam. Thông thường, Tòa án Việt Nam sẽ chất vấn nhiều về sự cần thiết phải triệu tập nhân chứng đó và thường không muốn chấp thuận yêu cầu trừ khi lời khai của nhân chứng đó là rất quan trọng đến mức Tòa án Việt Nam sẽ không thể giải quyết vụ án nếu không có lời khai đó hoặc chắc chắn rằng bên yêu cầu đó có thể thuyết phục nhân chứng xuất hiện. Lý do cho điều này là vì nó sẽ gây rắc rối cho Tòa án Việt Nam nếu một người được liệt kê là nhân chứng nhưng lại từ chối xuất hiện trong quá trình tố tụng (có thể xuất phát từ một thực tế là hầu hết người dân Việt Nam coi việc “đi đến Tòa án” là một “điều không tốt”). Về lý thuyết, luật pháp Việt Nam cho phép Tòa án yêu cầu cơ quan công an dẫn giải nhân chứng. Tuy nhiên, trên thực tế, không Tòa án Việt Nam nào muốn liên quan đến cơ quan công an vì việc này sẽ tốn quá nhiều thời gian (ví dụ, thư ký có thể cần đến trực tiếp nơi cư trú của nhân chứng và làm việc với cơ quan công an ở địa phương). Thay vào đó, Tòa án Việt Nam thường từ chối đưa các nhân chứng vào vụ việc với lý do các nhân chứng là không cần thiết và rằng các bên có trách nhiệm phải tự chứng minh cho các yêu cầu của họ.

Do đó, tại Việt Nam, việc triệu tập nhân chứng thường chỉ được thực hiện nếu nhân chứng đứng về phía bạn (ví dụ, nhân viên của công ty bạn) và sẵn sàng làm chứng. Tuy nhiên, điều này thường không hiệu quả vì lời khai của những nhân chứng này có độ tin cậy thấp (do họ sẽ thiên vị cho bạn) và những gì họ biết cũng chỉ giới hạn trong những gì bạn đã biết. Việc triệu tập nhân chứng là bên thứ ba hoặc bên thù địch với bạn là không thực tế ở Việt Nam vì họ thường sẽ lờ đi yêu cầu triệu tập. Hơn nữa, nếu nhân chứng có quan hệ với bên đối thủ, luật sư của bên đối thủ có thể tư vấn cho nhân chứng việc nộp lời khai bằng văn bản đến Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa. Lời khai bằng văn bản là một phương thức thường dùng và được các Tòa án ở Việt Nam cho phép. Thật không may, bạn sẽ không thể thẩm vấn hoặc thu thập bất kỳ bằng chứng có giá trị nào từ một nhân chứng chỉ nộp lời khai bằng văn bản.

Một điểm khác biệt nữa là, không giống như luật pháp Hoa Kỳ, luật pháp Việt Nam không coi nguyên đơn và bị đơn là nhân chứng, và do đó, họ không có nghĩa vụ phải khai báo một cách trung thực và nếu không sẽ bị xử phạt. Ở Việt Nam, thông thường nguyên đơn và bị đơn sẽ nói dối hoặc trả lời đơn giản rằng họ không biết hoặc không nhớ khi được hỏi những câu hỏi trái với lợi ích của họ. Vì việc thẩm vấn thường không hiệu quả, cách duy nhất đáng tin cậy để bác bỏ những lời khai của họ thường là thông qua những bằng chứng bằng văn bản.

Do Việt Nam thiếu một cơ chế hiệu quả để sử dụng các nhân chứng trong tố tụng dân sự, bạn không nên quá phụ thuộc vào nhân chứng để chứng minh cho vụ kiện của bạn hoặc bảo vệ bạn trong các thủ tục tố tụng. Để có một vụ kiện mạnh ở Việt Nam, bạn phải có bằng chứng mạnh mẽ bằng văn bản, chẳng hạn như các tài liệu được ký bởi bên đối thủ. Điều này có nghĩa là, khi kinh doanh tại Việt Nam, bạn nên ưu tiên ghi nhận lại các sự kiện bằng văn bản có chữ ký của tất cả các bên liên quan. Cần phải luôn nhớ rằng, nếu các sự kiện quan trọng không được ghi nhận bằng văn bản, nó vẫn có thể bị bác bỏ trong tương lai, dù nó được nhiều người chứng kiến.

3 Thu thập chứng cứ

Ở Hoa Kỳ, mỗi bên trong vụ kiện dân sự đều có quyền thu thập chứng cứ từ bên đối thủ bằng nhiều phương pháp khác nhau như các buổi họp thẩm vấn, lấy lời khai bằng văn bản, yêu cầu cung cấp các tài liệu và các phương pháp khác. Các phương pháp này cho phép các bên tham gia tranh tụng có được các dữ kiện và bằng chứng cần thiết cho vụ kiện của họ, giúp làm rõ sự thật và đảm bảo sự công bằng trong giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, cũng có nhiều chế tài dành cho việc không tuân thủ, chẳng hạn như buộc thanh toán các chi phí hợp lý phát sinh từ việc không tuân thủ, tạm dừng thủ tục tố tụng, bác bỏ một lập luận và ban hành phán quyết mặc định chống lại bên không tuân thủ. Do đó, tại Hoa Kỳ, nếu bạn cố che giấu chứng cứ và thông tin khỏi một yêu cầu cung cấp chứng cứ, bạn có thể bị đặt ở vị trí rất bất lợi trong vụ kiện của mình.

Luật pháp Việt Nam cũng có cơ chế thu thập chứng cứ, tức là một bên có thể đề nghị Tòa án Việt Nam yêu cầu bên đối thủ hoặc bên thứ ba cung cấp chứng cứ. Tuy nhiên, vấn đề là, không có chế tài nào cho việc không tuân thủ yêu cầu cung cấp chứng cứ từ Tòa án. Nếu một bên trả lời rằng họ không có tài liệu được yêu cầu, hoặc họ không đồng ý cung cấp các tài liệu được yêu cầu hoặc thậm chí bỏ qua yêu cầu của Tòa án Việt Nam, thì Tòa án Việt Nam không thể làm gì. Vì vậy, trên thực tế, yêu cầu cung cấp chứng cứ của Tòa án Việt Nam chủ yếu được sử dụng để (i) thu thập chứng cứ từ các cơ quan nhà nước khác do các cơ quan này sẽ tự nguyện tuân thủ hoặc (ii) ghi nhận rằng Tòa án Việt nam đã nỗ lực thu thập chứng cứ, để khi việc thu thập thất bại, Tòa án Việt Nam có thể đưa ra phán quyết dựa trên các chứng cứ có sẵn.

Vì vậy, khi kinh doanh tại Việt Nam, bạn nên đảm bảo rằng bạn giữ được các tài liệu quan trọng phòng khi có tranh chấp. Bạn không nên bất cẩn và dựa vào các tài liệu được giữ bởi các bên đối thủ, bởi vì khi xảy ra tranh chấp, những tài liệu đó có thể sẽ không thể truy cập được.


[1]  Bài viết này không thảo luận về các quy định chứng cứ trong tố tụng hình sự vì chúng khác với các quy định trong dân sự và sẽ được thảo luận trong một Bài viết riêng biệt.

[2]  Hiện tại, Dự thảo Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án được đề xuất có quy định về việc cấm sử dụng lời trình bày của một bên trong quá trình hòa giải tại Tòa án làm chứng cứ chống lại bên đó. Tuy nhiên, Dự thảo này vẫn chưa được thông qua.

Bản quyền của tài liệu này thuộc sở hữu độc quyền của Công ty Luật TNHH MTV Lê & Trần. Không được sao chép, phát tán hoặc truyền tải bất kỳ nội dung nào của tài liệu này dưới bất kỳ hình thức nào hoặc bằng bất kỳ phương thức nào, bao gồm sao chụp, ghi chép hoặc các phương thức thủ công hoặc điện tử khác, mà không có sự cho phép trước bằng văn bản từ Công ty Luật TNHH MTV Lê & Trần. Chúng tôi bảo lưu tất cả các quyền và sẽ ngay lập tức thực hiện mọi hành động tố tụng pháp lý (hình sự, dân sự và thương mại) theo các quy định liên quan của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế để xử lý (các) hành vi vi phạm của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.